YẾU CHỈ DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH
Thật ra kẻ tu chánh pháp vốn saün đầy đủ bốn điều kiện này.
Phổ Hiền Bồ Tát hứa với Phật là sau này ở trong đời ác trược, Ngài sẽ bảo hộ và giúp đỡ người trì kinh này được tu hành thành tựu và Ngài thuyết chú để bảo hộ.
Ý của phẩm này cũng là muốn cho người trì kinh này được tăng cường lòng tin và khiến họ được an ổn để chuyên tâm tu hành.
Nói tóm lại, Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trên đời, thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội, thiết lập phương tiện tám mươi bốn ngàn pháp môn, qui nạp lại thành bốn đại loại :
1. Tham thiền là Tổ Sư Thiền.
2. Niệm Phật là Tịnh Độ Tông.
3. Trì chú là Mật Tông.
4. Quán tưởng là thiền quán của các tông về giáo môn, như :
Tông Thiên Thai có Chỉ Quán Thiền.
Tông Hiền Thủ có Pháp Giới Quán Thiền.
Tông Duy Thức có Duy Thức Quán Thiền.
Tông Tam Luận có Tánh-Không-Quán Thiền.
Bấc cứ tu pháp môn nào cần phải thực hành đúng theo tông chỉ của pháp môn đó, mới được thành tựu bất thối hoặc chứng quả. Tu đúng một trong tám mươi bốn ngàn pháp môn kể trên tức gọi là trì kinh. Đọc tụng chỉ gọi là đọc tụng chẳng phải là trì kinh.
PHỤ CHÚ
Tông chỉ là đường lối thực hành của mỗi tông phái do Phật dạy và được truyền cho chư Tổ từ đời này qua đời khác (Tổ Tổ tương truyền).
“Hiểu đúng ý Phật” là phải phân biệt chánh tà và hiểu nghĩa bốn thứ tứ y.
A. Phân biệt chánh tà :
Phá ngã chấp là chánh, không phá ngã chấp là tà, phá chấp thật là chánh, chấp thật là tà, cũng như đi đúng đường chánh thì đi cạn cũng là chánh, đi sâu cũng là chánh, nếu đi lầm đường tà thì hiểu cạn cũng là tà, hiểu sâu cũng là tà.
B. Bốn thứ tứ y :
1. Hạnh tứ y : là bốn thứ y về tu khổ hạnh.
a. Phấn tảo y.
b. Thường khất thực.
c. Thọ hạ tọa (ngồi gốc cây).
d. Hủ lạn dược (hủ lạn: mục nát).
2. Pháp tứ y : là bốn thứ y đi đúng chánh pháp.
a. Y pháp bất y nhơn.
b. Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa.
c. Y nghĩa bất y ngữ.
d. Y trí bất y thức.
3. Nhơn tứ y : là bốn bậc người nên y chỉ.
a. Người biết đủ tất cả phiền não (ngũ trụ phiền não).
b. Tu Đà Hoàn và Tư Đà Hàm.
c. A Na Hàm.
d. A La Hán.
Những người này bên trong đã chứng Bồ Tát đại thừa mà bên ngoài hiện tướng Thinh Văn để truyền pháp giáo hóa chúng sanh.
4. Thuyết tứ y : là bốn thứ ý thú đều muốn chúng sanh thành Phật.
a. Ý thú bình đẳng (ý thú là được ý quên lời, bình đẳng là thuyết pháp chẳng rời bất nhị của tự tánh).
b. Ý thú thời khác biệt (*).
c. Ý thú tùy nghĩa khác biệt (+).
d. Ý thú tùy thuận theo tâm chúng sanh.
(*) Có 3 thời khác biệt :
1. Giáo thời thứ nhất : khi Phật mới thành đạo vì muốn phá chấp trước của phàm phu và ngoại đạo nên nói các pháp tứ đại, ngũ uẩn để sáng tỏ nhơn ngã không thật, tức là những bộ Kinh Tứ A Hàm (Tăng Nhất A Hàm, Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm).
2. Giáo thời thứ hai : Phật vì phá sự chấp pháp của tiểu thừa nên thuyết tất cả pháp đều không thật, là những bộ Kinh Bát Nhã.
3. Giáo thời thứ ba : Phật vì phá sự chấp có của tiểu thừa và chấp không của đại thừa nên thuyết pháp chẳng có chẳng không để sáng tỏ nghĩa bất nhị của trung đạo, như những bộ Kinh Thâm Mật, Pháp Hoa, v.v…
(+) Có ba loại nghĩa khác biệt :
1. Giải thích tất cả pháp “có” là đệ nhất thời.
2. Giải thích tất cả pháp “không” là đệ nhị thời.
3. Giải thích giáo pháp “trung đạo” bất nhị là đệ tam thời.
(Không kể thời gian trước hay sau mà chỉ phân theo nghĩa loại).
Lược giải tứ quả của thừa Thanh Văn :
Sơ Quả Tu Đà Hoàn : người đã dứt hết tất cả kiến hoặc tam giới, vì chưa dứt được tư hoặc (tư tưởng mê lầm) của dục giới nên còn phải sanh cõi dục giới bảy lần, dịch là Nhập Lưu.
Nhị Quả Tư Đà Hàm : người đã dứt được sáu phẩm tư hoặc trước của dục giới, còn ba phẩm sau chưa dứt được nên phải sanh lại cõi dục giới một lần nữa, dịch là Nhứt Lai.
Tam quả A Na Hàm : người đã dứt thêm được ba phẩm sau (nghĩa là dứt hết chín phẩm tư hoặc của dục giới) không trở lại sanh nơi cõi dục giới nữa, (chỉ sanh ở cõi sắc giới và vô sắc giới) dịch là Bất Lai.
Tứ Quả A La Hán : người đã dứt hết tất cả kiến hoặc và tư hoặc của tam giới, đã ra khỏi phần đoạn sanh tử chẳng thọ sanh nơi lục đạo, dịch là Bất Sanh.
Tam giới cửu địa :
Tam giới gồm có cửu địa cũng gọi là cửu hữu : dục giới một địa, sắc giới bốn địa, vô sắc giới bốn địa. Mỗi địa chia làm chín phẩm tư hoặc cộng chung là tám mươi mốt phẩm.
Cửu địa :
1. Dục giới ngũ thú địa (ngũ thú tạp cư địa)
2. Ly sanh hỷ lạc địa.
3. Định sanh hỷ lạc địa.
4. Ly hỷ diệu lạc địa.
5. Xả niệm thanh tịnh địa.
6. Không vô biên xứ địa.
7. Thức vô biên xứ địa.
8. Vô sở hữu xứ địa.
9. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa.
Ngũ trụ phiền não :
1. Kiến nhứt thiết trụ địa phiền não tức là tất cả kiến hoặc của tam giới, dứt hết thì chứng quả Tu Đà Hoàn.
2. Dục ái trụ địa phiền não tức là tất cả tư hoặc của dục giới, dứt hết thì chứng quả A Na Hàm.
3. Sắc ái trụ địa phiền não tức là tất cả tư hoặc của sắc giới.
4. Hữu ái trụ địa phiền não tức là tất cả tư hoặc của vô sắc giới, (dù không có xác thân nhưng còn chấp ngã nên còn có ái) dứt hết tất cả kiến hoặc và tư hoặc kể trên thì được chứng quả A La Hán.
5. Vô minh trụ địa phiền não tức là chỗ nguồn gốc sinh khởi tất cả phiền não, phá được vô thủy vô minh (căn bản vô minh) thì được kiến tánh thành Phật.
Cập nhật ( 16/08/2009 )

![Cà Mau: [Phóng sự] Về phum sóc nghe chuyện Sen Dolta](https://s3.ap-southeast-1.wasabisys.com/cdn.phatgiaobaclieu.com/wp-media-folder-phat-giao-bac-lieu/wp-content/uploads/2026/10/2aOboR4kT46TxxzH62SyeXw3dY4WaKcKsyDqU3Y8-120x86.jpg)































































































