HÌNH TƯỢNG BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TẠI CÁC NƯỚC CHÂU Á
Tín ngưỡng dân gian Natha, từng phổ biến ở Sri Lanka, dường như cũng bị hình ảnh Quán Thế Âm che khuất hay đồng hóa. Trong thời gian tín ngưỡng Quán Thế Âm hưng thịnh, quốc gia này đã tạo nên những hình ảnh tuyệt đẹp về Ngài, dấu tích hiện còn là những hình tượng bằng đá hay bằng đồng đang được trưng bày trong các viện bảo tàng quốc gia trong và ngoài nước.
Hiện nay, tại Viện Bảo tàng Quốc gia ở thủ đô Columbo của Sri Lanka còn lưu giữ bức tượng Bồ tát Quán Thế Âm. Tượng mạ vàng, mắt gắn hạt đá thạch anh trong suốt, mình trần đóng khố, tư thế ngồi của bậc vương giả, tóc búi cao và trước búi tóc, trên vùng trán có hình Phật. Tay phải bức tượng đang ở tư thế cầm một biểu tượng và tay trái chống xuống bàn thạch để đỡ thẳng thân người, một chân thả lỏng, một chân chống trên bệ.
Như Sri Lanka, Myanmar đón nhận Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ vào khoảng đầu thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Hai tông phái Phật giáo Mahàsanghikas và Theravada đã tạo nên ở Myanmar một pháo đài Phật giáo kiên cố trong thế kỷ thứ II, thứ III.
Triều đại Pagan (1044 – 1287) tại Myanmar đã đánh dấu một thời kỳ mới của sự thờ phụng tín ngưỡng Quán Thế Âm khi Ngài đến và trở thành một đối tượng sùng bái như một vị linh thần độc lập. Trong khoảng thời gian đó, Myanmar chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau. Mặc dù vua Aniruddha theo Phật giáo Theravada, nhưng ông vẫn tín phụng Quán Thế Âm. Vì thế, ông thường tôn xưng Ngài là Lokanàtha(1). Rất tiếc, những dấu ấn một thời của tín ngưỡng Bồ tát Quán Thế Âm trên đất nước Myanmar chỉ còn lại trên sách vở. Chúng tôi chưa tìm thấy một tác phẩm nghệ thuật nào miêu tả về hình tượng của Ngài như những quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á.
Vào thế kỷ thứ VII, Dvaravati (miền Trung Thái Lan) trở thành một trong những vương quốc hùng mạnh trong vùng Đông Nam Á. Điều đó được ghi nhận cùng với những hình ảnh Đức Phật vượt trội so với các di chỉ văn hóa khác của Dvaravati. Chúng tiêu biểu cho những đặc tính của quá trình ảnh hưởng văn hóa Andhradesa và Sri Lanka hòa lẫn với số lượng đáng kể ảnh hưởng văn hóa thời kỳ cuối và hậu Gupta từ phía Bắc Ấn và Mahàrashtra. Cho dù các vùng dân cư Dvaravati phần lớn theo Phật giáo Theravada, nhưng tư tưởng Đại thừa vẫn phát triển. Có thể, theo chân sự ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ, tư tưởng Phật giáo Đại thừa đã đến vào khoảng thế kỷ thứ VII. Niềm tin Đại thừa đã lan tỏa mạnh trong dân chúng trong vài thế kỷ sau đó. Diện mạo của Bồ tát Quán Thế Âm xuất hiện trong nghệ thuật Dvaravati và tạo nên những nét sinh động mới. Ở Campuchia, Phật giáo được truyền đến từ rất sớm. Sự thờ phụng Quán Thế Âm cũng thắng thế vào đầu thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ VIII. Campuchia là quốc gia tiêu biểu nhất cho nét văn hóa truyền thống tín ngưỡng Vua – Thần. Angkor là thời kỳ hưng thịnh nhất trong lịch sử Khmer. Họ đã xây dựng cho mình một vương quốc hùng mạnh, tạo nên một nền văn minh Angkor nổi tiếng, lan tỏa sự ảnh hưởng sang các vùng xung quanh, kéo dài hàng thế kỷ. Các vị vua trong triều đại Angkor luôn tự xưng mình là một vị vua được hóa thân từ một vị thần mà họ ngưỡng mộ, sùng kính. Trong giai đoạn đầu, Angkor theo Hindu giáo, thần Siva được ngưỡng mộ và trở thành vị thần được ưu ái nhất. Hầu hết các vị vua Campuchia đều đồng nhất mình với thần Siva.
Khi Phật giáo được truyền bá vào đất nước này, hình ảnh của Phật hay của một vị Bồ tát mà họ ngưỡng mộ đã thế chân các vị thần bản địa hay các vị thần Hindu xuất hiện trước đó. Từ đó, danh xưng của họ cũng gắn liền với tên tuổi của vị Phật hay Bồ tát mà họ ngưỡng mộ. Đó là giai đoạn cai trị của vua Jayavarman VII (1181-1201), một trong những vị vua xuất sắc và nổi tiếng nhất của thời kỳ văn minh Angkor. Sau khi giành lại đất nước từ quân xâm lược Champa, năm 1181, ông đã thực hiện một cuộc chuyển hướng mạnh mẽ về mặt tín ngưỡng. Thay vì tôn thờ các vị thần Hindu như các vị vua trước, ông đặc biệt đề cao và tôn thờ Phật giáo Đại thừa. Ông cho xây dựng nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc mang đậm dấu ấn Phật giáo và cũng tự nhận mình là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm.
Từ đó, Bồ tát Quán Thế Âm được xưng tụng dưới nhiều danh hiệu khác nhau trong các bi ký, như Vrah Kamrateu, Sri Avalokitesvara, Avalokitesa, Avalokita,… Những danh hiệu này xuất hiện trong thời kỳ Angkor. Hình ảnh của Ngài xuất hiện riêng biệt cũng được tạo dựng ở đây trong thế kỷ thứ VII. Văn hóa Campuchia đã tạo nên những nét đặc trưng hấp dẫn riêng về Bồ tát Quán Thế Âm trong khoảng thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ X.
Triều đại của vua Jayavarman VII đánh dấu đỉnh cao của nghệ thuật Khmer. Là một Phật tử thuần thành, ông củng cố lại vương quyền Khmer hùng mạnh, xây dựng nên một vương quốc của lòng từ bi vô bờ bến. Những bức tượng về Đức Phật và Bồ tát Quán Thế Âm hầu như có mặt khắp các ngôi đền linh thiêng trên toàn quốc. Kể từ khi ông tuyên bố nhận mình là hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm, tín ngưỡng này bắt đầu lan tỏa và phát triển mạnh trên toàn vương quốc và đây là thời gian hưng thịnh nhất của tín ngưỡng Quán Thế Âm trên vùng đất của người Khmer. Vì thế, thành tựu nổi bật nhất của thời kỳ này và cũng là của toàn bộ nền văn minh Angkor có dấu ấn rất đậm của tín ngưỡng Quán Thế Âm, đặc biệt nhất là thời kỳ Bayon (1177-1230). Những bức tượng bốn mặt cùng nụ cười bí hiểm và khó hiểu đã làm ngây ngất những ai đã từng đến đây chiêm ngưỡng, từ những du khách bình thường đến những nhà nghiên cứu, đền Bayon được xem là đỉnh cao nghệ thuật trong quần thể kiến trúc Angkor.
Trong những quan điểm khác nhau về bức tượng Bayon, có ý kiến giải thích Bayon là những bức tượng bán thân Quán Thế Âm bốn mặt, tượng trưng cho bốn hạnh nguyện của Bồ tát: từ, bi, hỷ, xả. Bởi vì, đền Bayon được xây dựng vào thời kỳ hưng thịnh nhất của tín ngưỡng Quán Thế Âm trong lịch sử Campuchia. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó cũng chính là khuôn mặt của vua Jayavarman VII. Điều đó cũng có lý vì chính ông tự nhận mình là hiện thân của Bồ tát Quán Thế Âm. Hơn nữa, trọn quyền quyết định trong tay, nhà vua tất phải ưu tiên xây dựng những hình tượng thần thánh mà mình ngưỡng mộ để phục vụ cho mục đích bảo vệ vương quyền của nhà vua. Từ những nhận định trên, chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng những bức tượng trên đền Bayon nổi tiếng là hình ảnh của Bồ tát Quán Thế Âm. Vừa qua, hình ảnh ngôi đền Bayon đã được Chính phủ Campuchia chọn làm biểu tượng cho Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 36 diễn ra tại Phnom Penh. Sự kiện hình ảnh ngôi đền Bốn mặt được sử dụng để thể hiện cho ước nguyện hòa bình và thịnh vượng trong toàn khu vực đã nói lên tầm quan trọng của hình ảnh này trong tiềm thức của người dân Campuchia.
Ngoài ra, cư dân Đông Nam Á hải đảo cũng đón nhận và thờ phụng Bồ tát Quán Thế Âm rất thành kính. Cũng trong thời kỳ nở rộ, hình tượng của Ngài đã lan đến các vùng đảo của Malaysia và Indonesia. Ngài thậm chí còn có mặt ở tận đảo quốc Philippines, một quốc gia hải đảo ở về phía cực Đông của khu vực Đông Nam Á. Hiện nay, các bức tượng của Bồ tát Quán Thế Âm vẫn còn ở Indonesia và Philippines như những nhân chứng cho sự hiện hữu của Ngài trong quá khứ trên những đảo quốc này.
Có thể nói, Quán Thế Âm là vị Bồ tát có hình tướng thể hiện cực kỳ linh động và phong phú bậc nhất trong hệ thống thờ tự Phật giáo nói riêng và tín ngưỡng dân gian nói chung. Sự phổ biến mạnh mẽ của hình tượng này đã chứng tỏ sức mạnh vi diệu của từ bi, trí tuệ Phật giáo. Tiến sĩ Vu Quân Phương, Khoa trưởng Phân khoa Tôn giáo, Đại học Quốc gia New Jersey – Hoa Kỳ, đã từng nhận xét “Quán Thế Âm là vị Bồ tát của một nửa Á châu”. Lời nhận xét đó thiết tưởng đã khái quát trọn vẹn sự ảnh hưởng của Ngài đối với giới Phật tử từ xưa đến nay
Cập nhật ( 17/04/2009 )
![Cà Mau: [Phóng sự] Về phum sóc nghe chuyện Sen Dolta](https://s3.ap-southeast-1.wasabisys.com/cdn.phatgiaobaclieu.com/wp-media-folder-phat-giao-bac-lieu/wp-content/uploads/2026/10/2aOboR4kT46TxxzH62SyeXw3dY4WaKcKsyDqU3Y8-120x86.jpg)
































































































