NGHI LỄ TANG MA VÀ THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NAM BỘ

NGHI LỄ TANG MA VÀ THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NAM BỘ

* Võ Thị Mỹ

Người Chăm là một trong các dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời trên mảnh đất Việt Nam, có nền văn hóa phong phú. Văn hoá của người Chăm được thể hiện qua chữ viết, trang phục, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, nghề gốm, dệt thổ cẩm, lễ hội, văn học, nghệ thuật dân ca, múa Chăm,… đã trở thành di sản của nền văn hóa Việt Nam. Người Chăm xưa sớm tiếp xúc với bên ngoài, giao lưu với văn hóa Ấn Độ, văn hoá Islam,…

 

Do đặc điểm cư trú và bản sắc văn hóa mang tính địa phương, người Chăm ngày nay được phân thành ba nhóm cộng đồng: Chăm Hroi (cư trú từ Phú Yên trở ra), Chăm Panduranga (cư trú ở Ninh Thuận Bình Thuận) và Chăm Nam Bộ (cư trú thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh)[1].

Cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ là một bộ phận người Chăm cư trú trên địa bàn Nam Bộ, là một trong những cư dân sinh sống lâu đời trên mảnh đất Việt Nam. Người Chăm ở Nam Bộ có một cuộc hành trình dài với nhiều thời điểm và nhiều con đường khác nhau. Sự hiện diện cộng đồng Chăm ở Nam Bộ được nêu trong “Gia Định thành thông chí” qua việc Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đề cập đến người Đồ Bà. Bức tranh về cộng đồng Chăm ở đây được rõ dần vào cuối thế kỷ XIX với những công trình nghiên cứu của các tác giả A. Cabaton, Marcel Ner, Manguin…

Trước đây, do nguyên nhân lịch sử, một bộ phận người Chăm đã di cư sang Campuchia, Malaysia, Thái Lan, Indonesia[2].,… vào những thế kỷ trước. Cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, một bộ phận người Chăm ở Campuchia đã tìm về cư trú ở An Giang và Tây Ninh cùng với một bộ phận người Chăm đã an cư trước đó. Sau những năm 30, 40 của thế kỷ XX, do chiến tranh ở vùng biên giới Tây Nam nên một bộ phận người Chăm ở đây đã di cư vào Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn (thành phố Hồ Chí Minh) để lập nghiệp.

Ở vùng người Chăm Nam Bộ, không có những ngôi tháp hùng vĩ như người Chăm ở miền Trung, song ở đây có rất nhiều thánh đường lớn có lối kiến trúc độc đáo riêng. Người Chăm cư trú quây quần bên cạnh những thánh đường Islam (Masjid, hoặc Surau) thuộc các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh, An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh. Theo số liệu tổng điều tra 1.4.1999, người Chăm Nam Bộ có 24.749 người và đến nay dân số Chăm ở Nam Bộ đã hơn 30.000 người.Hiện nay, người Chăm ở Nam  Bộ cư trú tập trung ở các tỉnh An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh,….

DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ CỦA NGƯỜI CHĂM Ở NAM BỘ

(Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009)

STT

ĐỊA PHƯƠNG

SỐ NGƯỜI CƯ TRÚ

1

An Giang

14.209

2

Thành phố Hồ Chí Minh

7.819

3

Tây Ninh

3.250

4

Đồng Nai

3.887

5

Bình Phước

568

6

Kiên Giang

400

7

Bình Dương

837

8

Cần Thơ

173

9

Trà Vinh

163

10

Bà Rịa Vũng Tàu

198

11

Đồng Tháp

90

12

Long An

218

Tổng cộng

31.812

 

Khi nói đến con người, chúng ta thường quan tâm đến một vòng đời từ khi con người được sinh ra, trưởng thành, kết hôn, già yếu, mất đi và đến thế hệ tiếp. Với cộng đồng dân tộc Chăm ở Nam Bộ, vấn đề này cũng không nằm ngoài quy luật của tạo hóa. Theo quan niệm của người Chăm, cái chết không hề làm đứt quãng các mối quan hệ giữa người chết với họ hàng thân thuộc. Họ cho rằng ngoài cuộc sống trần gian còn có các cuộc sống ở bên kia thế giới. Theo họ người chết chỉ là sự chuyển đổi chỗ từ thế giới này sang một thế giới khác, ở đó linh hồn người chết cũng tham gia vào những công việc hằng ngày, có tác động ảnh hưởng tốt, giúp đỡ, che chở hoặc mang đến những tai vạ cho những người thân thuộc. Những quan niệm trên, ở mức độ đáng kể, đã xác định được mối quan hệ tới cái chết của con người và những hành động, cách thức chôn cất. Trong bài viết này chúng tôi xin trình bày những lễ nghi đối với tín đồ người Chăm theo tôn giáo Islam với những tương đồng và khác biệt với cộng động người Chăm ở Việt Nam.

1. Nghi lễ tang ma

Khi có người chết thuộc cộng đồng Chăm, người nhà của họ thông báo cho mọi người trong cộng đồng jammaah của mình và thông báo ngay cho các jammaah khác ở Nam Bộ biết để cùng đến tham dự lễ cầu nguyện (sambahyang mayit) cho người quá cố.

Nghĩa địa tại khu vực thánh đường người Chăm ở ấp Châu Giang, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, huyện An Giang

 Người Chăm ở Nam Bộ cho rằng, chết là do Allah an bài nên không được để tang, không được lập bàn thờ và cũng không khóc lóc vì thương tiếc. Nếu ở thành phố hoặc phải di chuyển xa, người ta lấy gỗ về làm quan tài (tạm)[3] và chuẩn bị sẵn bông gòn, long não, băng phiến, vải trắng,…Mayit (thi hài) được tắm thật sạch và lau khô. Sau đó người ta xối nước lá táo lên mayit, rồi lấy nước (theo cách sambahyang) tẩy sạch cơ thể mayit trước khi đưa đến masjid. Người Chăm qui định, nam giới tắm cho thi hài nam và nữ giới tắm cho thi hài nữ.

Cầu nguyện cho Mayit tại thánh đường trước khi mang đến nghĩa địa

  Mayit nam giới được quấn bằng ba lớp vải, mayit nữ quấn bằng hai lớp vải phủ kín toàn thân thể, thêm một miếng vải làm chăn (sarong), một miếng vải làm áo và một miếng vải làm khăn đội đầu cho mayit, mặc thêm makhana (y phục để cầu nguyện nếu là nữ), khăn đội đầu, áo cho mayit. Từng lớp vải bao bọc ấy được lót bởi các lớp bông gòn và được rắc long não cho thơm. Vải bao bọc cho mayit toàn màu vải trắng hoặc có thể dùng màu sắc khác miễn là cùng một màu và bảo đảm sạch. Khi mayit được quấn vải xong, người ta cột túm mayit lại trên đỉnh đầu, khuỷu tay, lưng, đầu gối và dưới chân. Trong masjid, mayit được đặt nằm nghiêng theohướng kiblat (hướng về Mecca). Với mayit nam thì để đầu hướng về hướng Nam, với mayit nữ thì để đầu hướng về hướng Bắc. Lễ cầu nguyện cho mayit được tiến hành dưới sự hướng dẫn của một vị Imam. Sau cầu nguyện, ông Imam hỏi mọi người “mayit này có tốt không” tất cả mọi người có mặt đều đồng thanh đáp “tốt” nhằm xác nhận việc thi hài đã được chăm sóc đúng tập tục qui định trước lúc để “họ” về nơi an nghỉ cuối cùng.

Mayit được di chuyển đến nghĩa địa. Tại đó, huyệt được đào sâu từ một mét rưỡi đến hai mét, bề ngang một mét và chiều dài bao giờ cũng dài hơn một ít so với chiều dài của mayit. Khi mayit được chuyển đến nghĩa địa, nếu có sử dụng quan tài thì người ta tháo quan tài ra và đặt cho mayit úp mặt về hướng Tây, rồi dùng đất tấn vào phía bên lưng mayit, đậy nắp quan tài lại. Một người có kinh nghiệm về việc chôn cất (thường là ông Tuan lớn tuổi) xuống huyệt và đọc kinh, những người xung quanh cất giọng đọc kinh theo.

Khi phần đọc kinh chấm dứt, huyệt đã được lấp đầy đất và san bằng phía trên, người ta đóng bia gỗ ở đầu mộ và một ở phía cuối mộ. Khi mộ đã được phát bằng (vì không được đắp đất cao hoặc làm kim tĩnh như mộ của người Việt), những người tiễn đưa mayit đến nghĩa địa, trải chiếu xung quanh mộ và đọc kinh cầu an cho người quá cố. Tín đồ Islam cho rằng, đây là lúc người ta nhắc nhở vong hồn người quá cố những lời đối đáp với vị thiên thần (malaikat).

Phong tục tập quán của cộng đồng người Chăm Nam Bộ quy định từ khi người quá cố tắt thở cho đến lúc chôn cất xong bắt buộc chỉ diễn ra trong vòng một ngày (24 tiếng đồng hồ). Mọi việc lễ tang và chôn cất người quá cố đều do những đàn ông đảm nhiệm.

Các thành viên trong cộng đồng cầu nguyện cho mayit khi đã chôn cất xong tại nghĩa địa

  Trong nhà người Chăm không thiết lập bàn thờ tổ tiên, song thỉnh thoảng họ có thể tổ chức đọc kinh Qur’an cầu cho người quá cố cùng với việc mời nước, trái cây hoặc tổ chức bữa cơm “tưởng niệm”. Người Chăm chỉ đọc kinh Qur’an để cầu nguyện Allah ban phước cho người quá cố chứ không có ý nghĩa như đám giỗ của người Kinh. Vào những ngày đại lễ của tôn giáo Islam, như lễ Raya Idil Fitri kết thúc tháng Ramadan hoặc các lễ Raya Haji, Maulid…, người thân của những người quá cố thường đến thăm viếng, nhổ cỏ, dọn sạch khu mộ và đốt vài nén hương trầm cho mùi hương tỏa ngát quanh mộ chứ không cắm nhang như người Việt, để tưởng niệm. Hiện tại phần mộ của người Chăm trong các nghĩa địa Islam ở Nam Bộ đã được xây bằng xi măng và đặt bia để nhận ra phần mộ riêng. Trên cùng một diện tích nghĩa địa, người có quan hệ gần gũi về mặt huyết thống như anh em, cha con,… có thể được chôn cạnh nhau. Sau khi diện tích nghĩa địa đã lấp đầy, họ có thể đổ đất lên cao một đến hai mét để có thể chôn người chết tiếp tục.

Khi có người qua đời thì những người trong gia đình, họ hàng không ai được than khóc, để tang hoặc lập bàn thờ vì coi cái chết đó là đã được an bài. Khi có người mất thì tang gia sẽ báo cho những thành viên khác trong cộng đồng biết để đến chuẩn bị tẩn liệm và cùng dự lễ cầu nguyện cho người quá cố. Sau khi chôn cất mayit xong, gia đình, bà con và bạn bè của người quá cố tụ tập lại cầu nguyện liên tục trong suốt 3 đêm, rồi ngưng cho đến ngày thứ 7, thứ 40 và thứ 100 họ có thể tổ chức cầu nguyện lại cho người quá cố. Sau đó là ngưng hẳn, không còn bất kỳ một hình thức nghi lễ nào nữa liên quan đến người quá cố.Người Chăm cũng không tổ chức cúng giỗ hàng năm. Việc tổ chức tang ma của người Chăm tương đối đơn giản hơn, vì họ quan niệm, "chết chỉ là một giấc ngủ dài để chờ tới ngày phán xét cuối cùng của Thượng đế".

2.Thờ cúng tổ tiên

Bửa ăn chung sau khi đọc kinh tại tư gia (ở ấp Châu Giang, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, huyện An Giang)

Người Chăm ở Nam Bộ quan niệm con người được cấu tạo bởi phần xác và hồn. Khi chết phần xác của con người sẽ bị phân rã, còn phần hồn xuất ra khỏi xác để tiếp tục tồn tại xung quanh thế giới con người.

Về tục thờ cúng tổ tiên, do xuất phát từ quan niệm cho rằng người chết là về với Allah nên con cháu không phải thờ phụng hay phải lập bàn thờ. Tuy người Chăm vẫn tổ chức các buổi cầu nguyện vào một ngày thuận tiện nào đó sau tang lễ và tục viếng mộ. Song việc thờ cúng tổ tiên không đặt thành các nghi lễ cầu kỳ mà chỉ diễn ra đơn sơ với một vài buổi đọc kinh. Người Chăm ở Nam Bộ không làm tuần, làm giỗ như người Chăm Ahiêrhoặc Chăm Bani.Ngày kỷ niệm người quá cố qua đời có thể tổ chức vào bất cứ lúc nào khi gia đình có điều kiện thuận lợi, chứ không bắt buộc vào những ngày nhất định. Trong ngày đó, người ta mời những người đồng đạo (Islam) đến đọc kinh cầu nguyện chung cũng có khi người ta mang lễ vật đến ông Imam nhờ đọc kinh hộ. Sở dĩ tập tục thờ cúng tổ tiên đơn giản hơn so với người Chăm ở nơi khác là vì người Chăm cho rằng, chỉ có Thượng đế mới có quyền ban phúc hay giáng họa cho con người, nên không thể cầu xin vong linh tổ tiên (người đã khuất) che chở hay phù hộ điều gì cho người sống được.

Những thành viên trong cộng đồng đang cầu nguyện cho tất cả người quá cố tại nghịa địa

  Trong cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ có hai quan niệm khác nhau về thờ cúng tổ tiên.Một phái tán thành việc đọc kinh, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên tại gia đình hoặc tại thánh đường, phái này chiếm đa số trong cộng đồng.Phái thứ hai chống lại vì họ cho rằng việc thờ cúng tổ tiên không đúng giáo luật Islam qui định.Từ đó, phái không tán thành tự tạo lập thánh đường riêng. Có hai thánh đường do phái chủ trương không thờ cúng tổ tiên thiết lập gồm thánh đường Cồn Tiên ở huyện An phú, và thánh đường ở Châu Phong thuộc huyện Tân Châu, đều thuộc tỉnh An Giang.

3. Một số ghi nhận về đám tang trong các cộng đồng người Chăm ở Việt Nam

Lễ tang của người Chăm Islam được thực hiện trong thời gian ngắn (trong vòng 24 giờ) so với lễ tang của người Chăm Ahiêr và người Chăm Bani. Sự khác biệt giữa đám tang của người Chăm Ahiêr và người Chăm Islam thể hiện những điểm như đám tang của người Chăm Ahiêr chú trọng các nghi thức cho người mất và tin vào vong hồn của người mất, ngược lại người Chăm Islam không tin vong hồn người chết có thể che chở hay phù hộ cho người sống nên không có việc giỗ kỵ, thờ cúng tổ tiên và nếu có thì việc thờ cúng giỗ đối với người Chăm Islam chẳng qua là dịp để anh em, họ hàng, bạn bè gặp gỡ nhau hầu thắt thêm tình thân; còn vong linh những người khuất bóng thì đã được cầu nguyện và đã được bình yên, siêu thoát ngay sau lễ tang. Họ tin rằng, chỉ có thượng đế mới ban phúc lành hay giáng hoạ cho con người nên con cháu không thể cầu xin vong linh tổ tiên che chở phù hộ điều gì được. Chủ lễ lễ tang của người Chăm Islam là ông giáo cả, ông Imam và các tín đồ đọc kinh Qu’ran cầu nguyện cho người chết.

Nghi thức tắm rửa cho tử thi của người Chăm Islam chịu sự chi phối của Hồi giáo nên chỉ có đọc kinh khi lấy nước và tắm cho tử thi (nếu người chết là nam thì do hai nam tắm và ngược lại, nếu là nữ thì sẽ là hai người nữ tắm). Còn người Chăm Ahiêr và Chăm Bani có nhiều nghi thức mang tính “ma thuật”, bùa chúa. Sau khi các thầy Acar, Imam (người Chăm Bani), thầy Pasaih, thầy Pháp (người Chăm Ahiêr) làm lễ đọc kinh rồi thân nhân bắt đầu tắm cho tử thi.

Người Chăm Ahiêr và người Chăm Bani có buổi lễ cho người chết ăn cơm ngày cuối cùng, còn người Chăm Islam thì không có lễ thức này mà còn vuốt hết thức ăn ở trong bụng ra lúc tắm cho thi hài người chết. Người Chăm Ahiêr và người Chăm Bani có những quan niệm về lứa tuổi, chết lành, chết xấu và những người chết lành mới được chôn ở nghĩa địa dòng họ mẹ, còn người Chăm Islam không quan niệm chôn người chết theo huyết hệ, theo dòng họ mẹ do chi phối bởi chế độ phụ hệ và theo tôn giáo Islam. Điểm giống nhau giữa ba nhóm người Chăm Ahiêr, người Chăm Bani và người Chăm Islam là thi hài người chết đều khâm liệm bằng vải, xác không cho vào quan tài.

Như vậy, trong ba nhóm người Chăm hiện đang sinh sống ở Việt Nam nói chung, lễ tang người Chăm Islam đã thay đổi cơ bản những nét văn hoá truyền thống Chăm, các lễ thức được thực hiện đúng như giáo luật Hồi giáo quốc tế quy định và của chế độ phụ hệ, không có các đám làm tuần sau lễ tang, tục thờ cúng tổ tiên và chỉ có mỗi thánh Allah là người có quyền ban phúc cho con người. Người Chăm Bani, cũng theo Hồi giáo nhưng đã bị “Chăm hóa” nên trong lễ tang các nghi thức vừa chịu ảnh hưởng của Hồi giáo thế giới vừa mang trong mình những tín ngưỡng bản địa và cả Balamon giáo, thể hiện qua nghi lễ cúng tuần (padhi) và tục thờ cúng tổ tiên. Còn người Chăm Ahiêr, ảnh hưởng Balamon giáo những vẫn giữ được khá nhiều yếu tố bản địa hơn là yếu tố Balamon giáo trong nghi lễ tang ma. Đối với người Chăm theo Islam giáo, tất cả phải tuân theo giáo luật của Islam, đám tang được thực hiện đơn giản và không có vai trò của bà Buh trong đám tang. Chỉ có người Chăm Bani và Chăm Ahiêr thì vai trò của bà Buh thể hiện rất rõ nét trong đám tang, mặc dù bà Buh chỉ thực hiện việc dâng cơm cho thầy Pasaih (đối với Chăm Ahiêr), lễ dâng cơm cho thầy Acar (đối với Chăm Bani) và lễ cho người chết ăn cơm ngày cuối cùng nhưng đây cũng là một trong những nghi thức quan trọng trong đám tang và không ai có thể thay thế nhiệm vụ này nếu bà Buh vắng mặt. Do vậy, có thể nói rằng vai trò của bà Buh rất quan trọng và thể hiện rõ nét trong đám tang của người Chăm Bani và Chăm Ahiêr .

———————-

Nhìn chung, ở Nam Bộ, những yếu tố văn hóa Chăm truyền thống bị lấn át bởi giáo luật của đạo Islam. Tuy nhiên, Islam cũng đã tạo nên những yếu tố tích cực trong đời sống xã hội người Chăm ở vùng Nam Bộ. Đó là tính ổn định của các sinh hoạt tôn giáo và sinh hoạt xã hội được quy định bởi các chuẩn mực đạo đức tôn giáo. Sức mạnh của giáo lý, giáo luật của tôn giáo Islam đã làm thay đổi nhiều quan niệm, nếp sống của nhóm cộng đồng dân tộc Chăm. Allah đối với người Chăm ở Nam Bộ là toàn năng và chi phối mọi hoạt động của con người và muôn loài. Họ tâm niệm chung nội dung kinh Qur’an, cùng hướng về Mecca trong những cuộc hành hương Haji… nên chất kết dính cộng đồng người Chăm ở Nam Bộ với nhau thành một khối cộng đồng mang tính Islam, và lấy kinh Qur’an làm kim chỉ nam cho hoạt động của mình. Tôn giáo Islam ảnh hưởng sâu đậm đến mọi lĩnh vực của đời sống tập thể và đời sống cá nhân của người Chăm. Người Chăm ở Nam Bộ với quan niệm thẩm mỹ, phong tục tập quán, đều gắn bó chặt chẽ với ý thức hệ tôn giáo và chịu sự chi phối sâu sắc của giáo luật Islam vì thế trong các nghi thức của đám tang và thờ cúng tổ tiên cũng chi phối của tôn giáo Islam.

Tài liệu tham khảo

1. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991), Văn hóa Chăm, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2. Phú Văn Hẳn (chủ biên), 2005, Đời sống văn hóa & xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa dân tộc, thành phố Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Văn Luận (1974), Người Chăm Hồi giáo miền Tây Nam Phần Việt Nam, Bộ Văn hoá Giáo dục Thanh niên, Sài Gòn.

4. Võ Thị Mỹ (1997), Cộng đồng người Malay ở thành phố Hồ Chí Minh, luận văn tốt nghiệp đại học, Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh.

5. Võ Thị Mỹ (2007), Văn hóa tổ chức cộng đồng của người Chăm ở Nam Bộ, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh.

6. Võ Thị Mỹ (2016), Phụ nữ trong văn hóa Chăm, Luận án tiến sỹ, Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh.



(*)TS., Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam TP. Hồ Chí Minh

[1]PhúVăn Hẳn (chủ biên), 2005, Đời sống văn hóa & xã hội người Chăm thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Văn hóa dân tộc, thành phố Hồ Chí Minh,tr. 16-19.

[2]Xem thêm Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991), Văn hóa Chăm, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 308.

[3] Việc dùng quan tài do yêu cầu y tế khi di chuyển người chết đến nghĩa địa. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *